Lạc Yên - chương 4
7.
Tính cả năm nay, ta đã làm nghề vác x.á.c này được ba năm rồi.
Tuy không dám nói là lành nghề, nhưng ít ra cũng chưa từng xảy ra sai sót gì.
Thân thể ta tuy là nữ nhi, nhưng cao lớn ngang ngửa nam nhân, lại còn khoẻ hơn nhiều người trong số họ.
Người trong thôn Đông Lâm đều biết ta đang chắt bóp từng đồng để dành làm của hồi môn. Lại thêm cha ta làm việc trong nha môn, cho nên…
Ta luôn được ưu tiên gánh những thi thể trả công cao nhất.
Nghĩ mà chán, người sống đã chia sang hèn cao thấp, đến cả lúc c.h.ế.t rồi vẫn phải phân biệt quý tiện hay sao?
Rốt cuộc ai rồi cũng chỉ là một đống bùn nhão nhèm, có khác gì đâu.
Cơ mà phu thê huyện lệnh đúng là uổng công to x.á.c.
Nhìn thì đường hoàng sang trọng thế thôi, vậy mà khi c.h.ế.t rồi lại nhẹ bẫng như bao x.á.c thường dân khác.
Ta vác họ chẳng cần dùng mấy sức.
Lợi dụng lúc trời vừa tạnh, ta tranh thủ gánh hai x.á.c họ đến bãi tha ma.
Một đêm không ngủ, đi đường mấy chục dặm, vác người lại thấy đầu choáng chân loạng choạng.
Vừa đặt hai x.á.c nằm bên nhau, đang chuẩn bị khâu lại cổ họ, thì…
Chân trượt một cái, ta ngã dúi về phía trước, x.á.c cũng theo đó mà rơi xuống.
Trời lúc nãy vừa dứt mưa, giờ lại đổ xuống lách tách từng hạt lạnh buốt.
Ta lồm cồm bò dậy, kiểm tra thi thể chợt thấy trong tay huyện lệnh phu nhân vẫn nắm chặt một mảnh ngọc bội cùng một lá bùa trông thật quen mắt.
Khoảnh khắc ấy, ta bỗng thấy cơn mưa này chẳng phải nước.
Mà là mưa d.a.o.
Lạnh lẽo, đau nhói, xuyên thẳng vào lòng.
8.
Ta nhẹ nhàng bẻ từng ngón tay bà ấy ra, mở lá bùa đã loang m.á.u đến mức mờ nhòe từng nét chữ.
Chữ “Ân ái lưỡng bất nghi” hiện ra, ta cũng có một lá giống y hệt.
Tấm bùa ấy là quà cưới ta từng mua để tặng cho Tống Thừa Tuân.
Ta nhớ lúc ấy ở cuối con phố, có một lão đạo sĩ mở quầy bán bùa. Ông ấy nói bùa này là vật gia truyền, từng được đưa đến Tây Vực nhờ cao tăng Mô Kiệt khai quang, còn thờ cúng mấy chục năm.
Chỉ còn một cặp, một chiếc đã bị người ta mua mất, chỉ còn lại một chiếc duy nhất.
Nghe nói có thể phù hộ phu thê hòa hợp, trăm năm hạnh phúc, ta lập tức rút hết bạc dành dụm bấy lâu, nhanh tay mua về.
Lúc đó ta thật sự tin, tin chỉ cần có tấm bùa này, ta và Tống Thừa Tuân sẽ có thể bình an kết tóc, bách niên giai lão.
Vậy mà từng tháng từng năm trôi qua, đợi đến bây giờ, Lưu Lạc Yên ta lại trở thành bà cô già ngu ngốc nhất thiên hạ.
Ai ngờ thế gian này không chỉ mình ta là kẻ ngốc, đến cả vị huyện lệnh tham lam kia, hóa ra cũng từng là một kẻ si tình…
Mưa mỗi lúc một lớn, từng giọt mưa lăn dài xuống miệng, ta lại thấy vị gì đó đăng đắng.
Khó nuốt thật!
Ta lấy bộ kim chỉ vẫn mang theo người, tỉ mỉ khâu lại từng vết c.h.ém.
Vì tấm bùa “Ân ái lưỡng bất nghi” ấy, ta vác cuốc, cố đào một hố thật sâu.
Tốn biết bao nhiêu sức mới có thể chôn được hai người họ nằm cạnh nhau.
9
Ta quyết định đến kinh thành.
Dù là Tống Thừa Tuân hay Hoàng đế lão gia kia, ta cũng nhất định phải đòi lại cho được một lời công đạo.
Ta muốn cho bọn họ biết, Lưu Lạc Yên ta là một con người. Một người còn sống sờ sờ ra đó.
Chứ không phải là món hàng ngoài chợ, ai muốn chà đạp thế nào thì chà đạp.
Cha và hàng xóm láng giềng biết chuyện, ai nấy đều ra sức ngăn cản ta.
Đặc biệt là Đại Hoa, vừa biết tin đã lo sốt vó.
“Này Yên Yên, ngươi không được đi! Chẳng phải trong thư viết rõ ràng rồi sao?”
“Tống Thừa Tuân đã được hoàng thượng phong làm phò mã, kháng chỉ là tội ch.é.m đầu đó!”
“Nương ngươi mất rồi, nhưng cha ngươi còn sống. Ngươi không nghĩ cho mình thì cũng phải nghĩ cho ông ấy chứ!”
Đại Hoa sốt ruột, nói mà nước bọt văng cả vào mặt ta.
Ta đưa tay lau, vừa quay đầu lại đã thấy cha ta đang dùng đôi tay nứt nẻ lấm m.á.u lau khóe mắt.
Cổ họng ta như bị nước tràn vào, nghẹn cứng, không thể thốt nổi một lời.
“Con à, từ bé con đã bướng bỉnh, giống y hệt nương con. Một khi con đã quyết, dù ai nói gì cũng chẳng thay đổi được.
“Cha bất tài, cả đời sống uất ức cúi đầu.”
“Nhưng lần này cha sẽ đi cùng con lên kinh, phải đòi cho ra nhẽ. Không thể vì nhà mình nghèo, thân phận thấp kém mà để người ta giẫm đạp lên đầu như vậy!”
10.
Ta cùng cha lên kinh.
Lần này ta không nghĩ đến chuyện tiết kiệm nữa, mà đem toàn bộ tiền tích góp để làm của hồi môn ra thuê hẳn một cỗ xe ngựa.
Trên đường còn tiện tay đón thêm một anh tú tài từ trấn bên đang chuẩn bị lên kinh ứng thí.
Người hắn ta rách nát tả tơi, ăn uống đạm bạc, trong tay chỉ có một bộ áo sạch, định để dành hôm thi mới mặc.
Ta vốn định thu tiền xe, nhưng nhất thời mềm lòng, không lấy một xu, còn cho luôn hắn ta một bọc bánh bao.
Xe ngựa đi lắc lư, chậm chậm rồi lại nhanh, chỉ ba ngày sau đã tới cổng kinh thành.
Ta lấy vài cái bánh bao dúi cho một tên ăn mày đang ngồi co ro dưới chân tường thành, nhờ hắn dẫn ta tới chỗ Tống Thừa Tuân.
Kinh thành so với Túc Châu quả thật náo nhiệt, phồn hoa hơn nhiều, khắp phố toàn người qua kẻ lại, ai nấy quần áo màu mè sặc sỡ, nhìn đến hoa cả mắt.
Trước mặt ta là phủ đệ của Tống Thừa Tuân, đây là nơi Hoàng đế ban tặng cho hắn, tòa phủ đệ cao lớn, nguy nga, rộng lớn khiến người ta có cảm giác nghẹt thở.
Ta đứng đó, đột nhiên thấy hơi sợ, không dám bước vào nữa.
Ta bắt đầu sợ phải gặp lại Tống Thừa Tuân.
Trước khi đến kinh thành, ta nghe người ta khen chốn này đẹp đẽ giàu sang, ta chưa từng tin.
Vì ta thấy Túc Châu đã đủ tốt lắm rồi, ta thích Túc Châu.
Giống như ta yêu Tống Thừa Tuân vậy, yêu đến nỗi không thể chịu nổi khi người ta nói chúng ta không xứng đôi.
Thế nhưng Túc Châu là Túc Châu, còn kinh thành… không chỉ là kinh thành nữa.
Vì kinh thành có Tống Thừa Tuân, còn Túc Châu thì không.
Lưu Lạc Yên bên Tống Thừa Tuân cũng không còn nữa.
Ta nói với lính canh rằng mình từ Túc Châu đến, muốn gặp Tống Thừa Tuân.
Ai ngờ gã lính ấy chẳng những không cho ta vào, mà còn hất hàm mắng thẳng vào mặt ta:
“Cút! Loại ăn mày hôi hám như ngươi, không biết mình là ai mà cũng dám chạy đến phủ phò mã làm loạn?”
“Không đi thì đừng trách ta không khách khí!”
Gã đó dữ tợn quá, chẳng giống Tống Thừa Tuân dịu dàng năm nào.
À không, người dịu dàng đến mấy nhưng thể vứt bỏ vị hôn thê của mình, đến cuối cùng cũng chỉ là một kẻ phụ tình mà thôi.