Lạc Yên - chương 6
12.
Đại phu bảo bệnh của cha không thích hợp đi đường xa, ta nghĩ chẳng thể tiếp tục đưa cha ngồi xe ngựa quay về Túc Châu nữa.
Cha khỏe lại đôi chút, ta dắt cha dạo phố, ngắm kinh thành.
Kinh thành xưa nay vốn náo nhiệt, quả thật không khác mấy so với lời đồn trong miệng hàng xóm.
Nhưng hình như… vẫn có gì đó không giống.
Trên phố bỗng dưng nhiều thêm không ít dân chạy nạn ăn mặc rách rưới.
Nghe bà lão bán bánh tiêu nói, phía Đông đã bắt đầu có chiến sự, đám người này đều từ bên đó trốn chạy đến.
Chiến tranh mà, tất sẽ có người c.h.ế.t. Nghĩ đến trước kia từng thi thể một bị khiêng ra bãi tha ma, trong lòng ta không khỏi đau xót.
Thế đạo này, mãi mãi chẳng để dân thường sống yên ổn.
“Cha, cha chẳng phải luôn nhắc đến gà quay Trần gia sao? Ta đi ăn nhé.”
Cha ta vừa nhồm nhoàm ăn bánh điểm tâm trong tay, vừa lúng búng nói: “Phải rồi, nhất định phải kèm với rượu hoa đào Cát gia mới được.”
Mấy năm nay, vì để dành tiền làm của hồi môn, ta và cha sống rất tằn tiện.
Nghĩ lại, những thứ đắt đỏ nhất mà ta từng mua, cũng chỉ là mấy bánh xà phòng hảo hạng, miễn cưỡng không để mất mặt trước Tống Thừa Tuân.
Cùng cha sống những ngày ung dung thoải mái, tiền tiêu cũng nhanh.
Chỉ nửa tháng ngắn ngủi, túi bạc đầy ắp liền xẹp xuống.
Đến tiền thuê một chuyến xe ngựa về Túc Châu cũng không đủ, ta đành tìm cách khác.
Kiếm tiền ở kinh thành chẳng dễ hơn Túc Châu, tìm mấy hôm mới miễn cưỡng kiếm được việc khuân gạo thuê.
Chủ tiệm keo kiệt, ta làm cả ngày cũng chẳng bằng một hôm ở xưởng vải Túc Châu.
Cứ thế này thì không ổn, ta đành tiếp tục lang thang khắp phố tìm việc, thậm chí còn ghé cả thanh lâu.
Vừa nói với tú bà ta có thể vác khách say rượu về phòng, liền bị mắng cho một trận rồi bị đuổi ra ngoài.
“Cô nương à, đi tìm đàn ông cũng phải nhìn cho rõ đây là nơi nào chứ! Thân hình cô thế này, to lớn chẳng giống nữ nhân tí nào, có mà dọa khách của ta chạy hết!”
Tìm đàn ông? To lớn?
Lũ đàn ông đến nơi này có mấy ai tốt đẹp? Ta việc gì phải khiến đời mình thêm nhơ nhớp?
Hơn nữa ta chẳng qua chỉ cao hơn chút, ăn nhiều hơn chút, sao qua miệng bà ta lại thành thứ dơ bẩn đáng ghét vậy?
Cãi vài câu, ta bị mấy gã lực lưỡng xô ra ngoài, không kịp đề phòng, đụng phải một người đàn ông ăn mặc rách rưới, lại còn thọt chân.
Hắn bị ta húc ngã, loạng choạng đứng lên vài bước, rồi ngất xỉu.
“Này, tỉnh lại đi, đừng có định ăn vạ, ta chẳng có tiền đền đâu.”
Ta đá gã vài cái, chẳng có phản ứng.
Chẳng lẽ bị ta đ.â.m c.h.ế.t rồi?
Ta vội đưa tay thăm dò hơi thở, vẫn còn chút yếu ớt.
May quá, chưa c.h.ế.t. Bằng không, ta biết nói gì với Bồ Tát để thanh minh ta không cố ý làm hỏng thân x.á.c yếu ớt này đây?
Ta tìm mãi mới lôi được một chỗ trên người hắn còn sạch sẽ, lôi hắn về nhà.
Tiện thể nhờ luôn đại phu đang chữa bệnh cho cha kê cho hắn hai thang thuốc. Lương y giúp xử lý sơ vết thương trên chân hắn, nói là vết thương mưng mủ dẫn đến sốt cao, sống hay không còn phải xem hắn có gắng gượng nổi không cái đã.
Sau hai thang thuốc, đến ngày thứ ba, người này lại thật sự tỉnh dậy.
Mạng cũng khá dai đấy.
Chỉ là chân bị thương quá nặng, e rằng sau này chỉ có thể chống gậy mà đi.
Ta báo lại tin này, tưởng hắn sẽ buồn, ai ngờ người này chỉ lặng im nhìn ta, đôi mắt đen trầm như mực, chẳng biểu lộ cảm xúc gì.
Không lẽ… là kẻ ngốc?
Ngoại hình còn tạm được.. người vừa ngốc, vừa què, tương lai không làm được việc gì, xem ra vụ này lỗ to rồi…
“Đa tạ cô nương.”
Ồ, hóa ra không phải ngốc, chỉ là… ít nói.
“Tiểu… à không, công tử này.” Ta ngượng ngùng tát nhẹ lên má mình một cái.
“Chân huynh, đại phu bảo đã bị thương gần hai mươi ngày rồi, nếu sớm đi chữa, đã không nặng thế này. Sao không đi?”
Ánh mắt hắn bình thản, trả lời rất nghiêm túc.
“Kinh thành đắt đỏ, đi khám một lần đã gần cạn sạch tích cóp… nên…”
Nhìn thần thái thư sinh, chắc hẳn trước kia từng là công tử nhà quyền quý, giờ sa cơ lỡ vận mới ra nông nỗi này, ta bỗng thấy thương xót.
“Huynh đừng lo, ta vẫn còn chút bạc, chắc đủ trị khỏi chân huynh.”
“Đa tạ!”
Cha đẩy cửa bước vào, sắc mặt khó chịu, kéo ta ra ngoài.
“Yên Yên! Yên Yên, con lấy đâu ra bạc mà chữa chân cho tên què kia? Người lạ không rõ lai lịch, nhìn Tống Thừa Tuân xem, con chịu chưa đủ khổ sao?”
Cha ta giận run người, chắc lại nghĩ đến kẻ bạc tình kia mà lên m.áu.
Ta nhẹ nhàng vỗ lưng cha, giúp cha trấn tĩnh lại.
“Cha, người có thấy không? Mỗi lần con nói gì, huynh ấy đều trả lời, không mang vẻ thương hại như người thôn Đông Lâm, cũng không chán ghét con như Tống Thừa Tuân.”
“Vả lại, cha thấy vết thương ở chân huynh ấy không? Loại chấn thương đó con hiểu rõ đau đớn thế nào. Cha còn nhớ hồi con rơi xuống ao bị đau chân không? Vết thương của con còn nhẹ hơn huynh ấy, đến nay mỗi khi trời mưa vẫn còn nhức.”
Cha kiên quyết: “Nhưng chân hắn nặng hơn nhiều, dù có chữa cũng chẳng lành như trước. Con giúp hắn, chưa chắc hắn biết ơn con.”
“Có thể giảm đau chút nào hay chút đó, không phải sao? Cha, trước kia cha và nương vẫn dạy con phải quý trọng mạng sống. Con chẳng hiểu, mãi đến khi đi khiêng x.á.c ở nha môn, con mới dần dần hiểu ra.”
“Mạng người nhiều khi nhỏ như kiến, dù lên được địa vị cao cỡ nào, nếu phạm lỗi, c.h.ế.t rồi cũng chỉ được cuộn trong manh chiếu cũ, quẳng vào bãi tha ma, rồi hóa thành phân bón.”
“Con không phải thánh mẫu, cũng chẳng tốt bụng gì, nhưng thấy người còn có thể cứu mà lại làm ngơ… con không làm được.”
“Cha, con lại nhớ năm con mười tuổi, cha lần đầu đi xử tr.ả.m, đêm đó về ôm nương khóc như mưa. Cha bảo mười mấy năm cầm đao, lần đầu tay run, m.á.u nóng bắn lên mặt, cha sợ lắm. Cha đâu phải lúc nào cũng lạnh lùng gi.ế.t người?
“Còn nữa, cha đối với nương tình thâm nghĩa trọng, dù biết chuyện nương năm xưa ở thôn Bắc Đẩu, vẫn không để ý thanh danh mà cưới nương về nhà.”
“Dù biết con không phải con ruột, từ nhỏ đã khác biệt với những đứa trẻ khác, cha vẫn thương con như con ruột, chưa từng nửa phần bạc đãi con. Cha vốn không phải người vô tình vô nghĩa, sao lại muốn con trở thành người sắt đá chứ?”
Cha nghe đến chuyện của nương, sắc mặt thoáng bối rối.
“Yên Yên, chuyện đó cha đã dặn người ta đừng nhắc trước mặt con… sao con biết?”
“Cha à, người cứ xem con là trẻ con mãi sao? Cha nương diễn như thế, sao giấu được con?”
“Cha nương tuy yêu thương nhau, nhưng luôn có một khoảng cách. Không như nhà tiểu Béo, hai phu thê đánh tiểu Béo u đầu rồi cùng nhau nấu cơm, cười hớn hở. Con hồi nhỏ nghịch ngợm, cha nương lại chẳng nỡ đánh một cái, khi ấy con từng nghĩ, cha mẹ chắc là thần tiên Bồ Tát phái xuống cứu con.”
“Nhưng càng lớn, con càng thấy ánh mắt người ta nhìn mình là lạ. Con giả vờ không biết, chứ thực ra từ lâu đã hiểu. Họ ngoài miệng khen cha nương, sau lưng thì nói xấu, mỗi lần con nghe được đều âm thầm tìm cách trả đũa.”
Nghe vậy, nét buồn trên mặt cha dần hóa thành nụ cười nhẹ nhõm.
“Con gái ngoan, cha nói rồi mà, sao dạo này thôn Đông Lâm cứ đồn có m.a q.uỷ quấy phá, thì ra là nha đầu này! Quả thật giống hệt nương con.”
Cha cười, ta cũng cười.
Cha ta là người tốt, người rất tốt, cha ta thật thà, chân chất, thương vợ thương con, lại chịu khó làm ăn.
Cả thôn Đông Lâm ai cũng công nhận.
Nương ta gặp cha tại lễ hội chùa thôn Đông Lâm và thôn Bắc Đẩu.
Cha ta mồ côi từ nhỏ, lại mang một vết bớt đỏ lớn giữa trán, nhìn rất xấu.
Nhưng cha thật thà, siêng năng làm lụng, lại khỏe mạnh, chịu khổ được, lại còn hát hay.
Còn nương ta là con gái một, trên có đại ca, dưới có hai đệ đệ, từ nhỏ đã xinh đẹp, bà mối khắp nơi đến đạp cửa dạm hỏi.
Tiếc rằng… chưa kịp thổ lộ tình cảm, nương ta đã gặp nạn.
Hôm đó, nương ra ngoài bị kẻ xấu theo dõi, kéo vào rừng vắng cư.ỡng b.ức, mất đi trong sạch.
Về nhà, nương mỗi ngày đều lấy nước mắt rửa mặt. Chuyện ấy chẳng giấu nổi, cả thôn đều biết.
Người đến dạm hỏi cũng biết, sau đó đều bỏ đi.
Chỉ có cha là người duy nhất ở lại.