Nhất Chi Tuyết - chương 5
13.
Lời vừa thốt ra, tảng đá đè nặng trong ng ự c suốt bao năm bỗng như tan đi ít nhiều.
Ta gọi hết người hầu trong viện, ôn tồn bảo ta sắp rời phủ.
Tất cả đều hoang mang, Thanh Trúc còn òa khóc, ta lại chẳng có sức an ủi.
Đêm nay trăng sáng trời trong.
Ta ngắm trăng, chẳng còn tâm trí an ủi ai.
Bỗng ta nhận ra ở Tạ phủ bốn năm, đây là lần đầu tiên ta ngửi thấy hương lê thoảng đưa trong gió.
Nửa canh giờ sau, Lão phu nhân cho gọi ta đến viện.
Tạ Tự cũng ở đó, đứng quay lưng bên cửa sổ, dáng người cao thẳng, trường sam phiêu dật.
“Nghe Thành Quân nhắc, ta mới nhớ, quả là ta từng ký vào hòa ly thư.”
“Khi ấy ta không ưa ngươi, nhưng mấy năm qua, ngươi tuy không phải đoan nghiêm tinh tế, song cũng tận tâm tận lực sao giờ lại…”
Lão phu nhân đột nhiên vỗ án, nghiêm giọng:
“Sao lại đòi hòa ly hả? Thành Quân vừa hồi kinh, ngươi còn chỗ nào không vừa lòng nữa?”
Ta nhìn bóng lưng Tạ Tự, hắn không nói, ta chỉ khẽ thở một tiếng:
“Không phải không hài lòng, chỉ là… phu quân long chương phượng tư, là ta trèo cao.”
Lão phu nhân nghe thế, sắc mặt dần dịu lại.
Ta nhân đó tiếp lời:
“Nay phu quân trẻ tuổi tài cao, quan lộ hanh thông, sớm nên kết thêm một mối lương duyên quyền quý, có người giúp đỡ, há chẳng tốt hơn sao?”
Lão phu nhân càng thêm xuôi lòng.
“Huống hồ, khắp kinh thành ai chẳng mong nhi tử Tạ cưới được tiểu thư danh môn khuê tú biết lễ, biết quản việc trong ngoài, còn hơn ta, xuất thân thôn dã.”
Ta mỉm cười, cúi đầu:
“Đến khi ấy, lão phu nhân cũng chẳng cần vất vả như nay, chỉ cần an dưỡng, tiêu dao mà thôi.”
Lão phu nhân nộ khí tan đi, chỉ còn lưỡng lự chưa nói.
Lúc ấy, Tạ Tự bỗng trầm giọng:
“Mẫu thân, xin người tạm tránh.”
Lão phu nhân nhìn hai chúng ta, sau đó khẽ gật đầu rời đi.
Cửa khép lại, chỉ còn hai người đối diện.
Tạ Tự trầm tĩnh như cũ, khí thế lại như gư ơ m, lạnh lẽo áp tới.
“Sau khi hòa ly, nàng định sống thế nào?”
Thời thế này, nữ nhân sống chưa từng dễ dàng, chưa xuất giá nương cha, gả chồng nương phu, hòa ly rồi lấy chi làm gốc?
Ta bình tĩnh đáp:
“Khi Lão phu nhân ký hòa ly thư, đã hứa sẽ lập nữ hộ cho ta.”
“Ta không cần tiền bạc Tạ phủ. Mấy năm nay tranh thủ học vẽ, tranh của ta cũng đã có chút danh tiếng. Phần nhiều bán tại Tây Sơn Các, do Vương phi Thụy phủ quản lý.”
Tạ Tự chợt ngẩng đầu, bàn tay trên án khẽ siết chặt.
“Tổ mẫu ta tuy già yếu, song thân thể vẫn còn chống đỡ được. Ngoại ô có tiểu viện, ta muốn về đó chăm sóc tổ mẫu nốt quãng đời còn lại.”
Hắn im lặng một lát, giọng khàn đi:
“Là ta sơ suất. Lẽ ra ta nên sớm rước lão nhân vào phủ.”
Ta khẽ lắc đầu:
“Tổ mẫu ta sống nơi thôn dã đã nửa đời, chẳng quen chốn kinh thành phồn hoa.”
Tạ Tự nhìn ta thật lâu, chậm rãi nói:
“Đường thoái lui đã tính chu toàn đến thế… nàng sớm có ý hòa ly rồi phải không?”
Ta cong môi, thản nhiên đáp:
“Phải.”
14.
Ngày ta rời khỏi Bá phủ, toàn viện lê hoa nở rộ, trắng muốt như tuyết.
Việc trong phủ nhiều, ta và Tạ Tự cùng ngồi ở chính sảnh, dưới hoa đình, các quản sự lớn nhỏ đều tề tựu đông đủ.
Đã là rời đi, mọi thứ phải giao lại chu toàn.
Lão phu nhân không kham nổi trung khố, nên Tạ Tự cần phải nắm rõ đại thể.
Bốn năm qua, mọi chi tiêu khen thưởng, thưởng phạt trong phủ ta đều định sẵn thành điều lệ.
Không đến nửa canh giờ, mọi thứ đã sắp xếp rõ ràng.
Tạ Tự lúc đầu vẫn an nhiên nâng chén trà, đến cuối cùng lại nghẹn lời.
Một lúc lâu mới khẽ đặt chén xuống, giọng khàn khàn:
“Phu nhân hành sự chu đáo, không chê vào đâu được.”
Hắn dừng lại, giọng thấp hẳn:
“Những năm qua, nàng vất vả rồi.”
Ta xem như chẳng nghe thấy, chỉ thản nhiên mở sổ:
“Sau khi ta đi, mọi quy tắc cứ theo lệ cũ mà làm.”
“Điều quan trọng nhất là tổng sổ mấy năm nay.”
Sau ba tháng tân hôn, Tạ Tự đi nhậm chức ở Thục châu, cả phủ trăm việc đổ lên vai ta.
Hạ nhân thì giỏi nhìn sắc mặt chủ nhân, năm đầu tiên ấy, sổ sách ta chịu không ít thua thiệt.
Thiệt nhiều rồi, thì tự khắc thành quen, đêm đêm ngồi dưới đèn dầu, nhìn sổ đến hoa mắt, dần dần cũng luyện thành bản lĩnh.
Ba quyển đầu đối xong, mọi khoản đều sạch sẽ minh bạch.
Trần bá thở dài:
“Phu nhân làm việc ngay thẳng, ba năm chưa từng sai sót.”
Tạ Tự khẽ run tay, nước trong chén trà lay động.
Khi ta mở đến quyển thứ tư, hắn đột nhiên giữ lấy cổ tay ta.
Lực nhẹ, như sợ làm ta kinh động.
“Không cần nữa,” hắn khàn giọng lặp lại:
“Không cần tra nữa.”
“Không,” ta nhìn hắn:
“Cần phải để ngươi biết, ta có thật là người tham hoa chuộng phú, phẩm tính khiếm khuyết như lời người khác nói hay không.”
Ngón tay Tạ Tự buông ra như bị bỏng.
Lần đầu tiên, khi đối diện với ta, hắn là người phải né tránh.
Hoa đình lặng như tờ.
Ta đảo mắt nhìn quanh, mỉm cười:
“Bốn năm qua, đa tạ các vị đã hết lòng giúp đỡ.”
Trần bá khẽ nghiêng mặt đi, mọi người đều đỏ mắt, không ai nói nên lời.
Sự lưu luyến lặng lẽ tan trong không khí.
Ta quay sang Tạ Tự, kính cẩn rót chén trà, cúi người hành lễ:
“Thế tử gia nhân hậu, những năm qua giúp đỡ đệ đệ ta xoay chuyển khó khăn, ân này ta suốt đời không quên.”
Hắn mấp máy môi:
“Đó vốn là điều ta nên làm.”
Ta chỉ cười, đứng dậy, nhẹ nhàng nói:
“Hòa ly thư đã ký, xin thế tử chuyển đến quan phủ, đóng dấu chu sa.”