Nhất Chi Tuyết - chương 8
21.
Tổ mẫu ngã bệnh.
Ta sớm đã có linh cảm, tổ mẫu lại vốn là người hiểu rõ sinh tử, nên giữa ta và người, chẳng ai tỏ ra bi thương.
Gốc nhân sâm ngàn lượng kia đã níu giữ mệnh người suốt bốn năm, bốn năm qua, đều nhờ một hơi mong đợi ta và A Hành quay về mà gắng gượng sống.
Giờ đây ta và A Hành đều đã trở lại, tổ mẫu cũng đến lúc không còn gắng nổi nữa.
Người thiếp ngủ ngày một lâu, mời bao nhiêu lang trung tới, ai nấy đều chỉ biết lắc đầu.
Nghe tin, sau một tháng vắng mặt, Tạ Tự lại ghé thăm, mang theo một vị ngự y đã cáo lão hồi hương.
Ngự y bắt mạch thật lâu, chỉ khẽ than, rồi kê đơn.
Ta tiễn hắn và Tạ Tự ra khỏi tiểu viện, vị lão y đi chậm mấy bước, nói thẳng:
“Chỉ còn chừng hai tháng tuổi thọ thôi.”
Ng ự c ta lạnh buốt, phía sau, A Hành dâng bạc cho lão y.
Ta quay lại nhìn Tạ Tự, khẽ mỉm cười:
“Lại khiến ngài nhọc lòng rồi.”
Hắn nhìn ta, trầm giọng:
“Điều ta ghét nhất, là cái cách nàng luôn rạch ròi như thế.”
Nói rồi, dường như còn muốn nói thêm điều gì, nhưng lại nuốt xuống.
Từ đó, cứ ba ngày, Tạ Tự lại đến thăm một lần.
Thái độ hắn quay về kiểu lễ độ thuở ban đầu, nhưng dịu dàng hơn xưa.
Ta đã khước từ nhiều lần, có khi lạnh nhạt, có khi mềm mỏng, song tất cả đều bị Tạ Từ ôn hòa hóa giải.
Đến trận mưa cuối hạ, trên cành lê ngoài song cửa đã trĩu quả.
Tổ mẫu đã nằm liệt giường lâu ngày, bỗng ngồi dậy.
Thần sắc tươi sáng, tổ mẫu ngồi trước bậc thềm, gọi ra sân:
“Tạ gia tiểu tử, lại đây nào.”
Tạ Tự bước nhanh đến, khom người bên cạnh.
Tổ mẫu đưa tay vuốt nhẹ mặt hắn, nở nụ cười hiền hậu:
“Quả nhiên tuấn tú. Ngươi là đức lang quân tốt.”
Tổ mẫu nhìn xa xăm, giọng chậm rãi:
“Bốn năm trước, phụ thân nha đầu này bị oan mà c hế t ngục, đệ đệ nó sống ch ế t chẳng hay, ta bệnh nằm một chỗ, lang trung nói muốn giữ mạng già này, chỉ có nhân sâm ngàn lượng mới được.”
“Một gốc nhân sâm ấy, chẳng khác gì đòi mạng ta.”
“Cháu gái ta khóc trước giường, cầu ta ở lại với nó thêm chút nữa.”
“Nó đường cùng, mới gõ cửa Bá phủ.”
Ta và đệ đệ đều đỏ mắt, quay mặt đi.
Tạ Tự dường như hiểu được điều sắp nói, vội khẽ lắc đầu.
Tổ mẫu mỉm cười:
“Lấy ân mà báo, là lỗi của chúng ta. Ta thẹn trong lòng.”
“Có khi ta cũng nghĩ, thôi thì đi sớm cho xong, nhưng lại chẳng nỡ rời cháu gái ta.”
“Nó chịu nhiều khổ sở, ta đã hứa sẽ ở bên nó.”
“Bá phủ lời ra tiếng vào, chúng ta nào dám đến tìm nó nữa?”
“Không phải… không phải vậy.”
Tạ Tự khàn giọng:
“Là cháu rể bất hiếu, lẽ ra sớm đón người về phủ mới phải.”
Tổ mẫu mỉm cười, giọng ôn tồn:
“Ta chưa từng trách ngươi, Tạ lang quân. Bá phủ nhân hậu, ngươi là bậc quân tử. Chỉ là nhân duyên thế gian, thường sai một bước, lạc cả đời.”
“Gốc nhân sâm kia giữ ta sống thêm bốn năm, cũng khiến ta và Lê nương bốn năm cách trở, đến nay mới lại đoàn viên.”
Tổ mẫu nhìn hắn:
“Phu thê một hồi, rốt lại tình cạn duyên mỏng, có duyên mà chẳng có phận.”
“Đời người mênh mông, thôi thì, thả cho nhau một đoạn đường.”
Tạ Tự cúi thấp đầu, vai khẽ run, nước mắt rơi xuống đất.
Gió khẽ nổi.
Tổ mẫu ngẩng nhìn vườn lê, khẽ cười:
“Đáng tiếc, chưa kịp ăn lê năm nay.”
Ta cũng hướng Tạ Tự mỉm cười.
“Lê nương…” hắn cúi đầu, giọng trầm thấp:
“Có đôi khi, ta giật mình tỉnh giấc giữa đêm, vừa hối vừa đau.”
“Ta thường nghĩ, giá như đêm tân hôn ta đối với nàng dịu dàng hơn một chút, giá như ngày nàng cầu xin được theo ta ra ngoài, ta chịu dẫn nàng đi cùng, thì có lẽ… chẳng đến mức này.”
Tạ Tự cười, run run:
“Nàng như thế, tâm ý tinh thuần, ta nếu chịu bỏ thành kiến, có phải… đã chẳng có kết cục hôm nay.”
“Chuyện đã qua rồi.”
Ta mỉm cười:
“Bá phủ tốt, ngài cũng tốt, chỉ là không hợp ta thôi.”
“Phải.”
Tạ Tự khẽ cười: “Chim kia rồi cũng sẽ bay xa.”
Hắn nâng chén trà, thay rượu tiễn biệt:
“Đường dài muôn dặm, nàng hãy tự chăm sóc bản thân.”
Ta cùng Tạ Tự đối ẩm:
“Dẫu nơi chân trời góc bể, vẫn nguyện chúc bình an.”
Xe ngựa lại lăn bánh.
Từ ô cửa sổ, ta ngoảnh nhìn, bóng Tạ Tự mỗi lúc một nhỏ dần, sau đó cũng tan vào cổng thành xa khuất.
Ngẩng đầu, trời cao mây trắng, gió thu trong lành.
Yến tước đã bay về Nam.
Hậu ký
Người dẫn chương trình:
“Xin chào quý vị khán giả, hoan nghênh đến với chương trình Họa Thiên Niên.
Hôm nay, chúng ta lại hân hạnh được mời Giáo sư Dư của Đại học Yên Kinh, cùng ông bước vào thế giới hội họa của nữ danh sĩ Thẩm Lê.”
Giáo sư Dư:
“Đều là bạn cũ cả rồi, thôi miễn giới thiệu.”
Người dẫn:
“Nghe nói bức ‘Nhất Chi Tuyết’ vừa được khai quật đã được xác định là chính phẩm của Thẩm Lê?”
Giáo sư Dư:
“Đúng vậy. Qua phối hợp nghiên cứu giữa nhiều ngành học, đối chiếu bằng đủ loại chứng cứ tuy bức họa hoa lê này không có đề khoản hay ấn triện, nhưng từ bút pháp, kết cấu cho đến sắc điệu, đều có thể khẳng định, đây chính là chân tích thời kỳ đầu của Thẩm Lê.”
Người dẫn:
“Sự việc này đang gây chấn động trên mạng. Không chỉ bởi danh tiếng hiện nay của Thẩm Lê, người từng được mệnh danh ‘đỉnh lưu’ trong giới mỹ thuật cổ, mà còn vì bức ‘Nhất Chi Tuyết’ này được tìm thấy trong phần mộ của danh thần Hoàn triều sơ niên, Tạ Thành Quân.
Dù là chính sử hay dã sử, đều ghi chép rằng giữa Tạ Thành Quân và Thẩm Lê từng có một đoạn nhân duyên.”
Giáo sư Dư:
“Phải nói thật, bức họa này bảo tồn quá hoàn hảo, e rằng sinh thời chủ nhân hẳn đã vô cùng trân quý.”
Người dẫn:
“Tạ Thành Quân cả đời thăng trầm, cuối cùng làm đến chức Thủ phụ, duy chỉ chuyện hôn nhân dang dở. Sau khi cùng Thẩm Lê hòa ly, nghe nói ngài ấy cả đời không tái thú.”
Giáo sư Dư:
“Chính sử chỉ chép sơ sài, song có thể khẳng định một điều, Tạ Thành Quân quả thực không có con nối dõi, về già mới nhận con nuôi từ dòng bên.”
Người dẫn:
“Ân oán tình thù giữa hai người họ đến nay vẫn được truyền tụng. Bao người tiếc thay giá như họ có thể đi hết một đời cùng nhau, ắt sẽ là một thiên giai thoại phu xướng phụ tùy tuyệt đẹp.”
Giáo sư Dư:
“Nhưng nếu thế, e rằng thế gian đã chẳng còn cái tên Thẩm Lê được nhắc mãi ngàn năm.”
“Nghệ thuật của Thẩm Lê không chỉ ở chỗ bút pháp thanh thoát, khí vận siêu phàm, mà còn vì bước chân bà đã đi khắp núi sông Nam Bắc, khơi mở một trường phái mới, thủy mặc điền viên sơn thủy họa.”
“Thẩm Lê dùng thân phận nữ tử, bù đắp góc trống của lịch sử, phác họa nên hình tượng một người phụ nữ nhã nhặn, điềm nhiên khoáng đạt.”
“Về sau, Thẩm Lê quy y Phật môn, tranh bà thường ẩn thiền ý, tạo hóa thấu triệt.”
“Tranh Thẩm Lê siêu thoát thực cảnh, khiến bao văn nhân mặc khách, khuê phụ hậu thế đều tìm thấy trong đó chốn mộng lý an nhiên.”
“Người đời yêu Thẩm Lê, không chỉ vì tranh của bà, mà còn vì nhân cách thanh cao và phong thái thoát tục ấy.”
Người dẫn:
“Phải đó. Nếu Thẩm Lê suốt đời ở bên Tạ Thành Quân, chỉ e cũng chỉ là ‘phu nhân Thủ phụ’ được chép tên sơ sài trong sử sách, chứ nhân gian sao còn có được một danh họa Thẩm Lê?”
“Nhưng cũng có học giả cho rằng so với sơn thủy, Thẩm Lê càng yêu vẽ lê hoa, song về sau tranh vẽ lê lại dần thưa thớt.”
“Giáo sư, bức họa vừa khai quật này có thể chứng minh điều ấy chăng?”
Giáo sư Dư:
“Quả thật, Thẩm Lê rất thích vẽ lê.”
“Những bức tranh thời kỳ đầu phần nhiều là lê hoa, nét vẽ còn ngây ngô, chất chứa ưu hoài, nhưng sắc màu thanh tân, ý cảnh đã thấp thoáng linh khí của giai đoạn sau.”
“Có lẽ khi ấy bà còn bị giam trong nội phủ, tầm nhìn và tư tưởng đều hữu hạn.”
“Đến hậu kỳ, Thẩm Lê vẫn vẽ lê, chỉ là ẩn giữa vô số bức điền viên sơn thủy nên không còn nổi bật.”
“Về sau, cháu gái của bà đã sưu tập toàn bộ tranh lê ấy, biên thành một tập, do chính tay Thẩm Lê đề tựa.”
“Cả một đời bà phong phú và rực rỡ, sống đến tuổi tám mươi.”
“Truyền rằng, bức họa cuối cùng trước khi bà qua đời cũng là lê hoa. Khi cháu gái phát hiện, tuyết lê đã rơi đầy trên áo, Thẩm Lê vẫn nắm bút trong tay, an nhiên thiếp đi dưới tán lê trắng.”
Người dẫn:
“Vậy Thẩm Lê đã đề câu gì lên bức họa ấy?”
Giáo sư Dư mỉm cười:
‘Sầu trướng Đông lan nhất chu tuyết, nhân sinh khán đắc kỷ thanh minh.’
“Tập tranh ấy, mang tên Nhất Chi Tuyết.”
Hoàn toàn văn.
======
Bà con thấy hay follow ủng hộ page Mưa Mùa Hè của Sốp nha~