Tứ Trọng Âm - chương 5
11.
Hắn khó xử gì chứ?
Không phải hắn yêu say đắm Thôi Di sao?
Ta đây chẳng phải đang giúp hắn thành toàn mối tình “sinh tử bất phân, khắc cốt ghi tâm” ấy à?
Thật là… nam nhân đúng là giống nhau, càng chiều lại càng khó hầu.
Ta vừa oán thầm trong bụng, vừa một đường về phủ.
Phụ mẫu thấy ta, sắc mặt lo lắng:
“Hoàng thượng… nói gì với con thế?”
Ta đáp thản nhiên:
“Ngài ấy chỉ gọi thích khách ra đối chất cùng con, không hỏi ra được điều gì.”
Hai người mới thở phào.
Nhưng kế đó, lại hỏi ta nghĩ sao về Khương Nghĩa Hàm.
Nghĩ sao được chứ?
Chỉ mới gặp qua một lần, là công tử thế gia, lễ độ nho nhã, dung mạo tuấn tú còn có thể nghĩ gì hơn?
Ta khẽ cúi đầu, nhỏ giọng nói:
“Phụ thân, mẫu thân, Tứ Âm muốn ở lại hầu hạ song thân thêm vài năm nữa.”
Phụ thân ta nhíu mày, râu mép cũng run lên:
“Bao nhiêu tuổi rồi mà còn hầu với hạ! Nữ nhi nhà ai mười bảy rồi mà chưa gả? Có phải con chê Khương công tử nhà người ta không?”
Đại ca ngồi bên, cười nhạt:
“Phụ thân, đừng nhắc Khương công tử vội, con thấy Thái tử điện hạ hình như có ý với Tứ Âm đấy.”
Phụ thân ta lập tức sáng mắt:
“Thật sao?”
Đại ca đáp:
“Đương nhiên, chẳng thế thì sao lại cho Tứ Âm ngồi cùng xe ngựa?”
Ta vội xua tay:
“Không phải đâu, Thái tử chỉ thương hại muội nên thuận đường đưa muội vào cung thôi. Hơn nữa, Thái tử si mê Thôi tiểu thư, sao có thể để mắt đến muội?”
Ta càng nói càng gấp:
“Đại ca, đừng tùy tiện trèo cao! Nhỡ chọc giận Thái tử và Thôi tướng, nhà ta còn đường sống sao?”
Đại ca nghe vậy run nhẹ.
Nhưng phụ thân ta dường như vẫn còn ôm mộng lớn, lẩm bẩm:
“Thật ư? Ta thấy Thái tử nhìn con cũng có chút ý tứ mà. Không làm Thái tử phi, thì làm trắc phi cũng được chứ?”
Ta nghe xong, nóng ruột muốn khóc.
Lẽ nào lại để ta bước vào vết xe đổ của kiếp trước, cùng Tiêu Lẫm đi đến đường đôi bên chán ghét nhau sao?
Thế là ta nghiến răng, dứt khoát nói:
“Con… con thích Khương công tử!”
Cả phụ thân lẫn đại ca đều quay đầu nhìn ta.
Ta liền thở dài, cúi đầu thú nhận:
“Phụ thân, con thật lòng thích Khương công tử.”
Nếu gả cho Khương Nghĩa Hàm là bước vào con đường chưa rõ tương lai, thì gả cho Tiêu Lẫm chính là nhảy vào hố lửa.
Ta không muốn.
Phụ thân tin lời ta, bắt đầu lo liệu hôn sự.
Hai nhà vốn đều có ý, chỉ vừa bàn bạc đôi câu, hôn ước đã định trước năm mới.
Đến rằm tháng Giêng, vị hôn phu Khương Nghĩa Hàm của ta đến mời ta ngắm hoa đăng.
Cháng ấy cẩn trọng vô cùng, tự mình đánh xe, lại sợ thất lễ, còn mang theo vài nha hoàn hầu cận.
Lục muội nhìn mà ngưỡng mộ không thôi:
“Tứ tỷ thật có phúc, chẳng biết muội sau này có gặp được phu quân ôn nhu chu đáo như vậy không.”
Ta khẽ véo nhẹ mũi muội ấy, cười:
“Nha đầu này mới mấy tuổi đầu, đã nghĩ chuyện gả chồng rồi à?”
Lục muội lè lưỡi.
Ta ngoài miệng trách mắng là thế, song trong lòng lại thở phào nhẹ nhõm.
Ít nhất, Khương Nghĩa Hàm là người biết giữ lễ, cử chỉ ôn hòa, khiến người ta thấy ấm áp dịu dàng.
Không như Tiêu Lẫm, cái kẻ đáng ghét ấy, ngay cả khi dẫn ta xuất cung du ngoạn, cũng chỉ biết cau mày, chê đông chê tây, cuối cùng chẳng bao giờ để ta được vui trọn vẹn một lần.
Tết Nguyên Tiêu, hoa đăng rực rỡ, phố phường tưng bừng náo nhiệt.
Trên phố, hàng quán chen chúc, người qua kẻ lại như nêm.
Khương Nghĩa Hàm chọn cho ta một món trang sức.
Ta nghĩ, chàng ấy tặng ta, thì ta cũng nên tặng lại chàng ấy một vật làm kỷ niệm.
Thế là ta dẫn Khương Nghĩa Hàm vào tiệm đồ cổ.
Chàng ấy tò mò hỏi:
“Tứ Âm, sao nàng biết chiếc ngọc hồ này là đồ thời Hán?”
Ta biết ư?
Tất nhiên là ta đã từng thấy qua rồi.
Kiếp trước, Tiêu Lẫm đam mê sưu tầm cổ vật, mỗi lần có được món nào hiếm lạ, đều mang đến trước mặt ta khoe khoang。
“Cái này của đại tướng tiền triều, cái này của thừa tướng nhà Hán, cái này của hoàng thất Chiến Quốc…”
Hiện giờ, hai món ta cầm trong tay, chính là thứ hắn từng khoe với ta chính tại cửa hàng này mua được.
Nhưng chuyện đó, ta chẳng định kể với Khương Nghĩa Hàm.
Chàng ấy vẫn nâng ngọc bội lên ngắm nghía.
Khối ngọc trong suốt, ấm nhuận, dẫu năm tháng có làm trầy xước vài chỗ, vẫn là vật thượng phẩm.
Khương Nghĩa Hàm tán thưởng không dứt:
“Thật sự là của Tạ An thời Tấn sao?”
Ta gật đầu, giục:
“Phải, mau cất đi, nhỡ lát nữa lão bản đổi ý thì phiền lắm.”
Khương Nghĩa Hàm cười, ánh mắt cong:
“Được, quà của Tứ Âm, ta nhất định giữ gìn cẩn thận.”
Khi chàng ấy cất ngọc bội xong, ta dẫn chàng ấy lên lầu hai.
“Nơi này thường phẩm, họa thư ở tầng hai mới thực là tuyệt phẩm.”
Khương Nghĩa Hàm mở to mắt kinh ngạc, dạo quanh một vòng, rồi hơi thất vọng:
“Bút pháp vị Độc Sơn cư sĩ này vụng về, chẳng có gì đặc sắc cả.”
Đúng thế.
Người hiểu tranh, hẳn chẳng mấy ai xem trọng.
Nhưng giá trị của mấy bức này, không nằm ở nét vẽ mà ở người vẽ.
Độc Sơn cư sĩ, chính là Hoàng thượng.
Ngài ấy chẳng mê vàng bạc, cũng chẳng ham rượu sắc, chỉ say mê hội họa.
Tự cho rằng bút pháp mình phi phàm, lại không muốn triều thần biết, sợ bọn họ nịnh hót lấy lòng, nên thường sai người đem tranh ra phố bán thử.
Nếu có kẻ mua, nghĩa là thật lòng yêu thích, ngài sẽ hết sức vui mừng.
Còn người ấy tất nhiên sẽ được ngài để mắt hơn chút ít.
Vì vậy, ta đâu chỉ là mua tranh, mà là mua cho chàng ấy cả đường tiến thân.
Ta chọn mấy bức mà kiếp trước Hoàng thượng từng ưa nhất, mua lại rồi tặng Khương Nghĩa Hàm.
Chàng ấy không hiểu sao ta chịu bỏ nhiều bạc cho mấy bức “bình thường” ấy, nhưng lại cảm động trước tấm lòng của ta, cảm ơn mãi không thôi.
Ta vừa thanh toán xong, lão bản tiệm bước ra cúi chào:
“Cô nương, chủ nhân của tiệm mời cô lên lầu.”
Chủ nhân?
Ta thoáng liếc nhìn tầng trên chẳng lẽ Hoàng thượng ở đây?
Ta khẽ nâng váy bước lên, Khương Nghĩa Hàm lập tức theo sau, nhưng bị ngăn lại:
“Chủ nhân chỉ mời một mình Lý cô nương.”
Khương Nghĩa Hàm bước tới, mặt nghiêm lại:
“Lý cô nương là vị hôn thê của ta, sao có thể để các ngươi tùy tiện dẫn đi?”
Ta vội khuyên:
“Khương công tử yên tâm, ta biết chủ nhân là ai.”
Nhưng chàng ấyvẫn không yên.
Ngay lúc đó, tầng ba vang lên tiếng động.
Một người đẩy cửa bước ra, đứng nơi hành lang.
“Lý cô nương.”
Là Tiêu Lẫm.
Sắc mặt hắn lãnh đạm, không thừa một lời, chỉ đưa tay ra hiệu:
“Mời.”
Cuối hành lang, có hai hán tử cao lớn đứng chờ.
Khương Nghĩa Hàm thoáng sững sờ, người mà khiến Thái tử phải đích thân mời, thân phận há chẳng rõ ràng sao?
Ta khẽ vỗ tay chàng ấy trấn an:
“Đừng lo, ta sẽ nhanh trở lại.”
Rồi một mình đi lên.
Khi lướt qua hắn, Tiêu Lẫm ngẩng đầu, ánh mắt thoáng giao nhau trong khoảnh khắc.
Ta thản nhiên bước qua, không dừng lại.
Trong phòng, án dài bày ngổn ngang bút mực, giấy lụa, trên tường dán kín tranh vẽ dang dở.
Hoàng thượng đang đề bút, nét mực tung bay, thần sắc khoan khoái.
Ta quỳ xuống hành lễ.
Ngài không bảo đứng lên, chỉ cười hỏi:
“Biết trẫm gọi ngươi đến vì chuyện gì không?”
Ta đáp:
“Hoàng thượng chưa gi ế t thần nữ vào năm trước, chứng tỏ những điều thần nữ nói là thật.”
“Nếu không phải hỏi tội, thì vi thần chẳng rõ là vì việc gì.”
Ngài ấy bật cười, giọng khàn có chút vui:
“Ranh ma thật.”
Buông bút, hai tay chắp sau lưng, Hoàng thượng chằm chằm nhìn ta:
“Trẫm chỉ tò mò… ‘giấc mộng’ của ngươi.”
Hoàng thượng hỏi:
“Trong mộng, ngươi là ai, có quan hệ gì với trẫm?”
Ta nhíu mày, còn chưa kịp đáp, đã nghe ngài ấy tiếp lời:
“Khoan, để trẫm đoán.”
Ngài ấy vuốt râu:
“Ngay cả chuyện bát canh độc ngươi cũng biết, chắc hẳn từng hầu cận bên người là cung nữ?”
Ta định nói, hoàng thượng lại lắc đầu:
“Không đúng. Phụ thân ngươi, Lý Khám, người hèn trí cạn, chỉ giỏi nịnh bợ, nhát gan như chuột, sao dám làm chuyện khiến cả nhà diệt môn?”
Nếu phụ thân nghe thấy, e rằng tức ch ế t mất.
Hoàng thượng ngừng một chút, nheo mắt:
“Lẽ nào là phi tần của trẫm?”
Ta hoảng hốt phủ nhận:
“Không phải!”
Hoàng thượng càng thêm hứng thú:
“Ồ? Vậy là ai?”
Ta liếc ra ngoài.
Hoàng thượng hiểu ý, phất tay:
“Đều lui cả đi.”
Bóng người ngoài cửa dần tản.
Ta biết giấu cũng vô ích, bèn nói thật:
“Trong mộng, thần nữ là con dâu của bệ hạ.”
Hoàng thượng giật mình, rồi cười lớn:
“Ồ, thế thì hợp lý rồi.”
Ta còn chưa kịp nói thêm, hoàng thượng lại giơ tay ra hiệu:
“Đừng nói vội, để trẫm đoán xem ngươi gả cho đứa nào.”
Ta nghẹn lời.
Thì ra Hoàng thượng ngoài thích vẽ, còn có thú vui đoán án.
Ngài chắp tay đi qua đi lại, trầm ngâm:
“Tuổi ngươi, hợp với Tề Vương nhất. Nhưng ngươi chỉ là thứ nữ tứ phẩm thị lang, trẫm mà chỉ hôn như thế, Lệ phi liệu có chịu?”
Lắc đầu.
“Thái tử thì càng không thể.”
Nghe vậy, lòng ta bỗng nhói lên.
Ngay cả Hoàng thượng cũng cho rằng ta không xứng, không xứng với con trai sủng phi, lại càng không xứng với người kế vị.
Kiếp trước, ta có được danh phận Thái tử phi, chẳng qua cũng chỉ vì nhát đ ao định mệnh mà thôi.
Ta lặng lẽ chờ hoàng thượng đoán tiếp.
Hoàng thượng chau mày:
“Các hoàng tử khác đều còn nhỏ, tuổi không hợp.”
“Chẳng lẽ ngươi là trắc phi hay thiếp của Thái tử hoặc Tề Vương?”
Chưa kịp mở miệng, hoàng thượng lại tự phủ định:
“Không thể nào, trẫm đâu rảnh rỗi mà ban tranh cho một trắc phi.”
Ngài ấy thực sự… rất xem trọng tranh của mình.
Thấy hoàng thượng nghĩ mãi không ra, ta đành mở lời:
“Trong mộng, thần nữ là Thái tử phi.”