Quân tâm hướng ngư - chương 4
6.
Tứ hoàng tử Hòa Hy, là hoàng tử được thánh thượng sủng ái nhất.
Hoàng tự thưa thớt, nhị hoàng tử yểu mệnh từ sớm, tam hoàng tử tầm thường vô dụng. Phóng mắt nhìn khắp chư vị hoàng tử, chỉ có Hòa Hy thiên tư thông tuệ, là người được kỳ vọng nhất để kế thừa ngôi vị.
Nhưng Gia Quý phi xuất thân tướng môn, trong tay nắm vài phần binh quyền, triều thần phần nhiều kiêng dè, sợ sau này xuất hiện cục diện “ngoại thích lấn quyền”, bởi vậy quốc bản đến nay vẫn chưa từng được định.
“Hòa Hy.”
Một giọng nữ thanh lãnh từ phía sau truyền đến, mang theo uy thế của kẻ trên cao.
Gia Quý phi chậm rãi bước tới. Dẫu đã gần bốn mươi, năm tháng dường như chẳng để lại mấy dấu vết trên gương mặt bà ấy. Mi mục sắc sảo, thân hình thẳng tắp, tựa nữ võ thần không nhiễm trần ai, lờ mờ còn thấy được phong thái năm xưa cùng bệ hạ sóng vai chinh chiến, đoạt lấy giang sơn.
Ánh mắt Gia Quý phi lướt qua Hòa Hy, cuối cùng dừng lại trên người ta. Khoảnh khắc chạm đến ánh mắt ta, giữa mày đột nhiên tụ lại một tia bất duyệt. Ánh nhìn ấy lạnh như băng, mang theo bài xích không hề che giấu.
Ta vội khom gối hành lễ, quy củ chu toàn, nhưng Gia Quý phi lại làm như không thấy, ánh mắt vẫn lạnh lùng đặt trên người ta, như thể ta rất chướng mắt.
Lòng ta khẽ hoảng, vội cúi đầu, ngón tay không tự chủ siết ch ặ t vạt áo.
Bỗng một bàn tay ấm áp phủ lên bàn tay ta, lực đạo trầm ổn, mang theo an ủi.
Là Triệu Mặc.
Chàng ấy nắm ch ặ t tay ta, hơi nghiêng người, bất động thanh sắc che chắn ta phía sau, dùng ánh mắt ra hiệu ta không cần sợ.
“Không được hồ đồ, cẩn thận để phụ hoàng thấy lại trách phạt con.”
Gia Quý phi mở lời với Hòa Hy, lời lẽ trách cứ, nhưng đầu ngón tay lại nhẹ nhàng phủi bụi trên tay Tứ hoàng tử, vẻ cưng chiều giấu cũng không giấu được.
Nói xong, bà ấy liền dắt Hòa Hy rời đi. Trước khi đi, Hòa Hy còn lén quay đầu lại, làm mặt quỷ với Triệu Mặc, bộ dạng vừa non nớt vừa đáng yêu.
Không bao lâu sau, cung nữ đến truyền lời, tiệc kịch đã mở, mời chư vị nhập tịch.
Trong tiệc, Gia Quý phi cùng hoàng hậu đứng hầu hai bên thánh thượng. Thánh thượng ngồi chủ vị, ánh mắt phần nhiều dừng trên người quý phi, thánh sủng hiển nhiên.
Từ sớm đã có lời đồn long thể bệ hạ bất an, cùng hoàng hậu nhiều lần bất hòa, gần đây đều là Gia Quý phi hầu bệnh ngự tiền, xử lý hậu cung.
Trên đài hát đang diễn 《Cô nhi họ Triệu》. Tiếng trống vang lên. Đến đoạn Trình Anh đau đớn dâng con ruột thay thế cô nhi, hoàng hậu vốn ít nói bỗng khẽ thở dài, thanh âm không lớn, lại rõ ràng rơi vào tai mọi người:
“Trên đời này, có người mẹ nào không thương con sao?”
Gia Quý phi đang cúi đầu trêu đùa Hòa Hy trong lòng, nghe vậy liền nhấc mắt, nhàn nhạt liếc hoàng hậu một cái, không đáp lời, đầu ngón tay vẫn dịu dàng vuốt mái tóc Hòa Hy.
Bên cạnh, Bùi quốc công phu nhân thấy vậy, vội vàng tiến lên nịnh nọt:
“Tự nhiên là không có rồi! Người mẹ không thương con, còn xứng làm phụ nhân sao, đến cả làm người cũng không xứng! Hoàng hậu nương nương nhân tâm hậu đức, mới là khuôn mẫu của thiên hạ mẫu thân.”
Một câu nghe thì như tôn hoàng hậu, kỳ thực lại ám chỉ Gia Quý phi vô tình bạc nghĩa.
Gia Quý phi thông minh đến mức nào, sao có thể không nghe ra. Bà ấy khẽ nâng mắt liếc Bùi phu nhân một cái, khóe môi nhếch lên nụ cười lạnh lẽo. Nụ cười ấy không chạm tới đáy mắt, mang theo mấy phần hàn ý khiếp người.
Bùi phu nhân bị ánh mắt ấy dọa sợ, liền run lên, vội cúi đầu, không dám nhiều lời nữa.
Bữa tiệc này, vì mấy phen sóng ngầm cuộn trào ấy, ăn vào cũng chẳng thấy vị.
Ta ngồi cạnh Triệu Mặc, trong lòng như đè một tảng đá, ăn chẳng ngon.
Đến khi tan tiệc, đi trên cung đạo, ta mới khẽ nói với chàng ấy:
“Quý phi nương nương, hình như đối với thiếp thành kiến rất sâu.”
“Không cần để tâm.” Triệu Mặc dừng bước, quay lại nhìn ta:
“Sau này chúng ta ít vào cung là được.”
Ta nhẹ lắc đầu: “Mệnh phụ đến lễ tiết đều phải vào cung tạ ơn, là quy củ, tránh không được.”
Chàng ấy cúi đầu suy nghĩ một lát, bỗng nhiên cười, siết chặt tay ta:
“Vậy thì kiếm cớ, mỗi dịp lễ tết chúng ta ra Bắc cảnh. Nơi ấy trời cao mây rộng, tự tại hơn trong kinh thành. Coi như dẫn nàng đi khuây khỏa, được không?”
Phu quân nhà người, ai cũng mong thê quyến mình được quý nhân để mắt, thay mình lót đường tiền đồ. Chỉ có chàng ấy, chỉ muốn dẫn ta tránh xa tranh đoạt, hộ ta an ổn.
Lòng ta ấm lên, lại không nhịn được lo lắng:
“Thiếp chỉ sợ, long thể bệ hạ ngày một không bằng trước, mai sau Gia Quý phi nắm quyền, nếu vẫn không dung thiếp, nhất định sẽ liên lụy đến chàng.”
“Ngốc.”
Triệu Mặc cúi xuống, trán khẽ chạm trán ta, giọng trầm thấp kiên định:
“Phu thê một thể, họa phúc cùng nhau, lấy đâu ra hai chữ liên lụy? Nếu Gia quý phi dung không nổi nàng, ta liền dẫn nàng rời kinh, dù có cởi giáp về quê, cũng nhất định hộ nàng chu toàn.”
Lòng bàn tay hắn nóng rực, lời nói chân thành, như nắng ấm, xua tan mọi âm u trong tim ta.
Ta nhìn vào đôi mắt sâu thẳm Triệu Mặc, bỗng cảm thấy, chỉ cần có chàng ấy bên cạnh, ta chẳng sợ gì nữa.
Ta nhón chân, nhẹ tựa lên vai Triệu Mặc, khẽ đáp:
“Ừm.”
7.
Ngày tháng cứ thế lặng lẽ trôi, không sóng gió, không biến động. Cái rét đầu xuân dần tan, liễu trong viện đâm chồi non biếc, cuộc sống bình lặng yên ổn.
Mười hai tháng hai là ngày giỗ song thân Triệu Mặc.
Từ đầu tháng, chàng ấy đã giữ lễ, không đụng đến mặn tanh, ngày ngày khoác áo vải thô, chay tịnh.
Ta lớn lên ở Sơn Ẩn tự, nấu đồ chay đã quen tay. Mỗi ngày lại đổi món cho chàng ấy, cháo thanh đạm, rau xào, canh nấm ngọt, món nào cũng tinh tế, vừa miệng.
Trong thoáng chốc, ta nhớ đến kiếp trước. Khi ấy, tuy ta lạnh nhạt xa cách chàng ấy, nhưng vì cả hai đều mồ côi phụ mẫu, trong lòng vẫn luôn có mấy phần thương cảm.
Ghét sự cố chấp của Triệu Mặc là thật, kháng cự cuộc hôn sự này là thật. Nhưng mỗi lần thấy chàng ấy một mình tế bái song thân, dáng vẻ cô tịch hiu quạnh, lòng ta sinh ra thương xót, cũng là thật.
Nghĩ lại mới hay, có lẽ chính những ấm áp vô tình ấy, đã khiến Triệu Mặc, giữa tháng năm dài bị ta lạnh nhạt hững hờ, vẫn dần dần sinh ra thứ tình cảm sâu nặng.
Đầu tháng ba, gió xuân mới ấm lên được mấy ngày, biên cương đã truyền về tin gấp, Bắc Địch quấy nhiễu, chiến sự bùng phát.
Thánh chỉ đột ngột đến, Triệu Mặc phải lập tức dẫn binh xuất chinh.
Chàng ấy rời đi lúc trời còn chưa sáng. Ta vẫn đang say ngủ, chỉ mơ hồ cảm thấy động tĩnh bên cạnh.
Trong mơ màng, ta cảm giác Triệu Mặc vươn tay, lưỡng lự rất lâu trên mặt ta, cuối cùng mới nhẹ nhàng chạm xuống.
Ta nắm lấy vạt áo chàng, khẽ gọi:
“Triệu Mặc.”
Chàng ấy khựng lại một chút:
“Không sao, ngủ tiếp đi.”
Cửa cọt kẹt, rốt cuộc Triệu Mặc vẫn đi rồi, đến một lời từ biệt đàng hoàng cũng không kịp nói.
Ta mở mắt, cho đến khi ánh bình minh tràn qua song cửa.
Ký ức kiếp trước hiện lên rõ ràng. Trận chiến này vốn không hung hiểm, tháng tám Triệu Mặc sẽ khải hoàn, đến nửa vết thương cũng không có.
Đạo lý ta đều hiểu. Nhưng nỗi lo trong lòng vẫn như dây leo đ i ên cuồng sinh trưởng, quấn chặt lấy tim phổi, khiến người khó thở.
Triệu Mặc vừa đi, thiếp mời của Lý Mục Chi liền liên tục đưa tới, chưa từng gián đoạn.
Khi thì mời ta dự yến ở Khúc Giang, nói cảnh xuân đang đẹp, bằng hữu cũ nên tụ họp.
Khi lại sai người đến bảo Lý phủ tìm được vài món đồ cũ của ta, mong ta về lấy, giọng điệu đương nhiên.
Ban đầu ta còn nhẫn nại khước từ, hoặc bảo mình không khỏe, hoặc lấy cớ trong phủ bận việc, không muốn cùng Lý Mục Chi có thêm nửa phần dây dưa.
Nhưng hắn lại vờ như không biết, hết lần này đến lần khác gửi thiếp, lời lẽ ngày một khẩn thiết, thậm chí cho người đứng chờ ngoài cổng tướng phủ, làm ra bộ dáng ta không đi hắn liền không chịu rời.
Nhiều lần như vậy, ta cũng lười vòng vo, dứt khoát bảo quản gia truyền lời ra ngoài, nói ta nhiễm phong hàn, cần đóng cửa tĩnh dưỡng, tất cả ngoại khách đều không gặp.
Từ đó cổng phủ khép chặt, từ chối viếng thăm. Những thiếp mời mang theo ý đồ của Lý Mục Chi, cũng đều bị trả lại nguyên vẹn.
Cẩm Thư từng không hiểu, hỏi ta:
“Tiểu thư làm vậy có quá đắc tội người ta không? Dù sao cũng từng là nhà nghĩa phụ.”
Ta nhìn khóm tường vi nở rộ trong viện, giọng điềm tĩnh kiên quyết:
“Giữa ta và Lý gia đã sớm không còn quan hệ. Nay ta là thê tử của Triệu Mặc, đời này kiếp này, chỉ nhận tướng phủ là nhà.”
Tâm tư của Lý Mục Chi, ta hiểu rõ hơn ai hết.
Hắn đâu phải thật lòng niệm tình cũ, chẳng qua thấy Triệu Mặc xuất chinh, cho rằng có cơ hội, muốn kéo ta trở lại dưới sự khống chế của hắn.
Chỉ tiếc, hắn quên mất, ta đã không còn là cô nương ngốc năm xưa, một lòng một dạ chỉ biết nhìn hắn.
Biển lửa hội hoa đăng, sự phản bội kiếp trước, đã sớm thiêu rụi tất cả tình ý ta dành cho hắn. Cái còn sót lại, chỉ là cảnh giác cùng chán ghét mà thôi.
Gió tháng năm mang theo hơi ấm, cũng thổi lòng người dễ xao động.
Trong viện, khóm tường vi do chính tay Triệu Mặc trồng cho ta nay đã bung nở rực rỡ, cánh hồng phấn chen nhau, phủ kín nửa bức tường.
Ngày trước chàng ấy nghe ta nói không thích hoa mai, sau khi hồi kinh liền cho người dời hết mai trong viện đi, lại đích thân ra chợ hoa chọn đủ loại bốn mùa: mẫu đơn, nguyệt quý, cúc non, lạp mai… trồng kín cả sân.
Khi ấy ta còn thầm nghĩ, trồng nhiều hoa quá rồi.
Giờ nhìn đầy viện tường vi rực rỡ, mới hiểu lòng chàng ấy, Triệu Mặc không biết ta rốt cuộc thích gì, liền đem tất cả những điều tốt đẹp bày ra trước mặt ta, vụng về chân thành.
Ta viết không ít gia thư, kể chuyện hoa trong viện nở, kể ta nấu món chay gì, kể kinh thành không có đại sự, chỉ mong chàng ấy ngoài biên ải bình an.
Nhưng mỗi lần sai người mang đi, trong lòng lại nhịn không được lo lắng, đường sá biên tái xa xôi, những lá thư ấy, liệu có thể thuận lợi đến tay chàng không?
Kiếp trước, ta và Triệu Mặc tương kính như tân, mấy năm liền, đến một phong thư nhà cũng tiếc không viết cho chàng ấy.
Giờ mới hiểu, ly biệt là thứ giày vò người nhất, cũng là thứ khiến ta nhìn rõ tình ý trong tim mình.
Gió thổi qua giàn tường vi, hoa rơi đầy đất.
Ta đứng dưới giàn hoa, đầu ngón tay khẽ chạm cánh mềm, bỗng nhiên nhận ra…
Ta hình như… thật sự có chút thích Triệu Mặc rồi.
Không phải vì cảm kích, không phải vì áy náy, mà là chân chân thật thật muốn đợi chàng ấy trở về, muốn cùng chàng ấy ngắm hết bốn mùa hoa nở, muốn cùng chàng ấy bù lại từng chút một những năm tháng hai ta đã bỏ lỡ.